Bài đọc 1 (St 1:1-2:2)
Bản văn này là đoạn đầu tiên trong Sách Sáng Thế, cũng là đầu tiên của toàn bộ Sách Thánh. Nó diễn tả công trình Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ và con người. Nó là một câu chuyện, tương tự các chuyện thần thoại của các dân tộc trên thế giới, nhắm giải thích nguồn gốc của con người và muôn loài thụ tạo. Nó mang nhiều rất nhiều đặc điểm tương đồng với những huyền thoại sáng thế của những dân tộc như Ai Cập, Babylon hàng nghìn năm trước khi có dân Israel. Tuy nhiên, một điểm độc đáo và khác biệt nổi bật là bản văn Sáng Thế của Sách Thánh Do Thái không còn mang bầu khí thần thoại huyền hoặc như những bản văn cổ xưa khi luôn có sự hiện diện đa thần và cuộc chiến giữa các thần. Dân Do Thái chỉ thờ duy nhất một Thiên Chúa mà thôi và Người tạo dựng mọi sự trong bình an, thanh thản, và nhất là con người mang phẩm giá cao quý đáng trân trọng chứ không như các thần thoại cổ chỉ coi con người như các nô lệ phục vụ thần minh.
Bài đọc 2 (St 22:1-18)
Qua bài đọc này, ta nghe lại câu chuyện tổ phụ Abraham, vị cha sáng lập của dân Do Thái, cũng là cha của những người tin theo ba tôn giáo lớn: Do Thái, Kito, và Hồi giáo. Câu chuyện cho ta thấy Abraham đã sống đức tin một cách mạnh mẽ như thế nào. Ông tin cậy vào Chúa đến mức không ngần ngại sẵn sàng hiến con một mình là Isaac như tế vật dâng lên Thiên Chúa. Thật ra Thiên Chúa chỉ muốn thử lòng ông thôi, chứ Chúa nào mà lại ác thế. Cố yếu của câu chuyện là nhằm trình bày một đức tin kiên vững của Tổ phụ Abraham vào Thiên Chúa, đặt ông như là gương mẫu đức tin tuyệt vời cho con cháu noi theo. Ngoài ra, lời hứa thành lập một dân Thiên Chúa xuất phát từ dòng dõi Abraham cũng bắt đầu từ đó. Nó không chỉ là dân Israel mà là tất cả mọi dân tin vào Thiên Chúa.
Bài đọc 3 (Xh 14:15-15,1a)
Câu chuyện thuật lại cuộc xuất hành thần thánh của dân Israel ra khỏi Ai Cập do Mose dẫn dắt dưới sự lãnh đạo của Thiên Chúa. Trong niềm tin của mình, dân Do Thái thờ phượng Thiên Chúa không những vì Người là Đấng Tạo Hóa và Ban Ơn, mà còn vì Người là Đấng Cứu Độ và Giải Thoát dân. Việc một đám dân nhỏ bé và yếu ớt lại có khả năng thoát ách nô lệ của Ai Cập to lớn và hùng mạnh, trong đó đáng kể nhất là biến cố dân có thể vượt qua lòng biển khô cạn, là một phép lạ vĩ đại mà chỉ có niềm tin mới nhìn ra được cánh tay uy quyền và đầy yêu thương của Thiên Chúa đã làm mà thôi. Dân Do Thái đời đời ghi nhận ân tình đó và ca mừng tình yêu quan phòng của Thiên Chúa bằng cách hằng năm cử hành Đại Lễ Pesach, hay chúng ta thường gọi là Lễ Vượt Qua, để kỉ niệm biến cố Đức Chúa giải thoát dân Người khỏi ách nô lệ và sống tự do.
Bài đọc 4 (Is 54:5-14)
Qua ngòi bút của ngôn sứ Isaiah, Thiên Chúa tái cam kết tình yêu thủy chung của Người dành cho dân Chúa. Tuy mối tương quan giữa Thiên Chúa và dân Israel, hay hiểu rộng ra là giữa Thiên Chúa và con người nói chung, có nhiều lúc thăng trầm thay đổi, hoặc vì dân phản bội, bất tuân Chúa, hoặc vì Chúa nổi cơn thịnh nộ, giận đến mức không muốn nhìn mặt dân nữa, thậm chí đôi lúc còn muốn tiêu diệt loài phản nghịch cho xong. Nhưng rồi Thiên Chúa không thể sống trái với căn tính và bản chất của mình được: Người là Thiên Chúa trung tín, nhân hậu, đầy yêu thương và hay tha thứ. Đó chính là đức công chính của Người. Nó khác hẳn với sự công bằng và chính trực mà con người chúng ta thường hay gán cho Người một cách sai lầm: Công chính của Chúa luôn mang đầy tính trắc ẩn và xót thương, trong khi công chính của con người chúng ta thường mang tính cào bằng và sòng phẳng.
Bài đọc 5 (Is 55:1-11)
Đoạn văn này là lời mời gọi của Thiên Chúa dành cho dân Người và tất cả những ai muốn sống. Sự sống này không chỉ dừng lại ở việc sống đời thể lý, vật chất, mà là sự sống siêu linh, viên mãn tràn đầy. Và muốn được như vậy, Chúa mời gọi con người bước vào một giao ước vĩnh cửu với Người: Giao ước tình yêu. Từ đời nọ đến đời kia, mãi mãi đến thiên thu, Thiên Chúa liên tục cử các sứ giả của mình đến với nhân loại để canh tân và làm mới lại giao ước ấy, bởi vì con người luôn vi phạm giao ước ấy, trong khi Thiên Chúa thì vẫn một lòng trung thành với giao ước mình đã lập đến muôn đời. Các sứ giả đó là các thủ lãnh, các vua, các ngôn sứ, v.v… và cũng là bản thân của mỗi chúng ta, tất cả những ai biết mở lòng đón nhận và lắng nghe Lời Chúa, trung thành thi hành thánh ý Chúa và sinh hoa kết quả dồi dào nơi cuộc sống của mình.
Bài đọc 6 (Br 3:9-15.32-4:4)
Lời Chúa qua bài đọc trích sách ngôn sứ Baruc lại tiếp tục trình bày cho ta thấy sự tha thiết của Thiên Chúa muốn yêu thương, dạy dỗ và hướng dẫn dân Người, với một niềm mong mỏi duy nhất là dân sống cách an vui và khôn ngoan. Sự an vui và khôn ngoan ấy không thể tìm thấy được ở bất cứ nơi đâu, ngoại trừ nơi chính Thiên Chúa, chính Lời Chúa là nguồn mạch. Riêng đối với dân Do Thái, đó là Lề Luật, vì chính Lề Luật chỉ đường và giúp cho họ sống đẹp lòng Chúa và “tiến bước về chốn huy hoàng.”
Bài đọc 7 (Ed 36:16-17a.18-28)
Lối sống và hành vi của dân Chúa đã đem lại cho Chúa biết bao điều nhục nhã và xúc phạm giữa chư dân. Vì Chúa giận, nên dân đã bị tản mác khắp nơi. (Xin mở ngoặc một chút, cách viết Chúa giận hay nổi cơn thịnh nộ với dân là cách viết của nhiều tác giả Thánh Kinh, đơn giản họ chỉ muốn nói lên kinh nghiệm đức tin của mình: Khi thấy điều gì đó xui xẻo hoặc không may xảy đến, họ cho rằng đó là vì Chúa giận họ, chứ sự thật thì chẳng có Chúa nào giận cả.) Nhưng rồi Thiên Chúa đã nghĩ lại và tập hợp dân về. Và lần này, Chúa không còn viết giao ước mình trên đá hoặc vật liệu gì khác nữa, mà là viết ngay vào trong tâm khảm của con người. Người muốn đặt chính thần khí Người vào trong cuộc sống con người, muốn thay trái tim chai đá của con người bằng một trái tim bằng thịt, một trái tim biết sống tình người với nhau. Như thế, dân Thiên Chúa không còn chỉ giới hạn nơi dân Do Thái nữa, dân mang vác và lưu giữ bia đá giao ước của Người, mà bây giờ là tất cả mọi dân, dân biết sống một trái tim đầy ắp tình người.
Thánh thư (Rm 6:3-11)
“Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kito, chúng ta sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta…Và một khi Đức Kito đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa.” Câu Lời Chúa mang đầy tính xác quyết và hùng hồn của Phaolo. Thật vậy, chết và sống là hai thực tại tất yếu của con người. Ở đây không chỉ là vấn đề sống chết thể lý, mà Sách Thánh nhắm đến những sự thật sâu xa hơn. Nếu ta không chết đi những gì là tội lỗi, cũ kĩ, và tù hãm, thì làm sao ta có thể sống đời ân sủng, mới mẻ và tự do. Mà làm sao mới có thể làm được như thế? Xin thưa, hãy tập trung nhìn vào Đức Kito và sống theo Người: dám sống hết mình vì Thiên Chúa và vì con người, dám chết vì niềm xác tín vào Tình Yêu và Sự Thật, và rõ ràng tinh thần mạnh mẽ ấy đã sống lại và tiếp tục sống mãi nơi các môn đệ Người, trong đó có chúng ta hôm nay.
Tin mừng (Mt 28:1-10)
Việc Chúa sống lại được phát hiện vào “ngày thứ nhất trong tuần khi bình minh vừa ló rạng”, được Mattheu ghi nhận, nhằm ám chỉ một sự khởi đầu mới, một cuộc tạo dựng mới với ánh sáng của Mặt Trời Công Chính, một thế giới mới mà nơi đó tinh thần Giê-su sống lại và sống mãi.
“Hai người phụ nữ”, một bà là Maria Magdala và một bà nữa cùng tên là Maria, là những người đầu tiên ra mộ và phát hiện ngôi mộ trống. Đối với người Do Thái, ít nhất hai người mới làm chứng được. Hơn nữa, trong xã hội Israel phụ hệ thời bấy giờ, phụ nữ không được tôn trọng và thường bị coi là không đáng tin cậy. Tuy nhiên, chính việc đề cập đến hai người phụ nữ mà Matthew muốn nhấn mạnh tính xác thực của biến cố phục sinh cách thuyết phục hơn.
“Động đất”: Matthew đề cập đến động đất vài lần trong Tin mừng của mình. Điều đó đơn giản chỉ là ông nhắm đến ý nghĩa mang tính “kinh thiên động địa” của cuộc đời và giáo huấn của Đức Giê-su, và cụ thể ở đây là sự sống lại của Người từ cõi chết.
“Galilee”: Chúa Kito phục sinh đi trước các môn đệ mình đến Galilee, và hẹn gặp họ ở đó. Tại sao lại như vậy? Tại sao là Galilee mà không là nơi khác? Xin chia sẻ vài diễn giải thần học mà tôi thấy tâm đắc:
- Galilee là quê hương của Chúa Giê-su, là nơi gặp gỡ giữa Chúa và các môn đệ mình, nơi tình yêu và sứ vụ bắt đầu.
- Galilee là nơi giao thương gặp gỡ của nhiều sắc tộc, là “ngã tư quốc tế” thời bấy giờ; Có lẽ Chúa Kito phục sinh muốn tới đó vì sứ mạng cứu độ phổ quát của Người nên bắt đầu từ đó, đó là nơi tốt để sứ điệp Tin mừng tỏa lan.
- Galilee trong tiếng gốc Do Thái cũng có nghĩa là vòng tròn, là bánh xe. Trong nhiều tác phẩm và tư tưởng thời đó cũng như thời nay, hình tròn hoặc bánh xe có ý nghĩa biểu tượng cho chu trình cuộc sống, Chúa Kito phục sinh muốn cùng các môn đệ mình hòa vào bánh xe cuộc đời để lăn mãi tới thiên thu, muốn họ làm chứng cũng như gặp lại Người nơi cuộc sống thường ngày.

Bình luận về bài viết này