Sách Giôsuê cho biết khi Israel tiến vào đất Canaan, thành đầu tiên họ chiếm lấy là Giêrikhô, và họ đã thực hiện án tru hiến với thành này. Mục đích của việc tru hiến được gắn cho Đức Chúa mà sách Giôsuê 6,17 ghi như sau: “Thành và mọi sự trong Thành sẽ bị án tru hiến để kính Đức Chúa…”. Và những câu tiếp theo (Gs 6,20-21) ghi lại diễn tiến của án thần tru như sau:
“Bấy giờ, dân hò reo xung trận, và người ta rúc tù và. Vừa nghe tiếng tù và, dân lớn tiếng hò reo xung trận, và tường thành sụp đổ tại chỗ. Dân chúng ai nấy cứ thẳng trước mặt mình mà tiến lên đánh thành, và đã chiếm được. Họ dùng lưỡi gươm mà thi hành án tru hiến mọi sự trong thành, từ đàn ông cho đến đàn bà, từ người trẻ cho đến người già, đến cả bò lừa và chiên cừu”.
Với án thần tru, Giôsuê chương 6 là đoạn điển hình về vấn nạn bạo lực trong Kinh Thánh: làm sao Thiên Chúa là Đấng nhân lành lại ra lệnh thi hành án thần tru? Phải chăng Thiên Chúa thời Cựu Ước tàn bạo hơn thời Tân Ước, như có người đã nghĩ!
Án thần tru rất nguy hiểm nếu áp dụng theo nghĩa đen
Án thần tru, nếu hiểu theo nghĩa đen, thì đó là việc giết người hàng loạt và có hệ thống. Nếu hiểu và áp dụng theo nghĩa đen này thì rất nguy hiểm cho nhân loại, vì người ta có thể dựa vào án tru hiến trong Cựu Ước để biện minh cho những vụ diệt chủng. Lịch sử nhân loại đã để lại những trang sử đen về những cuộc diệt chủng man rợ, nhân danh ý thức hệ, nhân danh lý tưởng.
Hitler
Nạn diệt chủng thời Hitler. Ý thức hệ mà Hitler đưa ra, không chỉ nhằm bài trừ người Do Thái mà chuyện độc ác hơn là “thanh lọc chủng tộc” với “thuyết ưu sinh”. Hitler chủ trưởng diệt những chủng tộc “hạ đẳng” và chỉ để lại chủng tộc “thượng đẳng”. “Thượng đẳng”, theo Hitler, đó là người Aryan, đó là người Đức thuần chủng (da trắng, mắt xanh, tóc vàng, cao lớn, xinh đẹp và thông minh).
Pol Pot
Pol Pot đã giết người hàng loạt, và giết chính người của dân tộc mình. Mục đích của Pol Pot là xây dựng một xã hội lý tưởng theo cách của ông. Ông căm ghét và muốn xóa bỏ tận căn giai cấp tư sản, bao gồm tầng lớp trí thức (ông gọi là những người đeo kiếng trắng). Ông biến tất cả mọi người thành nông dân. Vì theo ông, nông dân là những người “đơn giản, không được giáo dục, chăm làm và không có xu hướng bóc lột những người khác”.
Với những nạn diệt chủng đã xảy ra trong lịch sử nhân loại, lương tâm nhân loại rõ ràng không chấp nhận, và chúng ta hiểu vì sao những đoạn Kinh Thánh về án thần tru trở nên scandal cho người đọc Kinh Thánh.
Có một nguy hiểm đáng sợ hơn, đó là hiện nay có hai quốc gia, Israel và Palestin, đang cùng sống trên mảnh đất Palestin, miền Đất Hứa ngày xưa. Tình hình chính trị giữa hai nước này luôn căng thẳng. Trong tình hình hiện nay, nếu áp dụng án thần tru theo nghĩa đen thì đúng là thảm họa.
Quan điểm của Giáo Hội
Giáo Hội biết những nguy hại trên, vì thế qua tài liệu của Ủy ban Kinh Thánh Giáo Hoàng, 2014, Giáo Hội cảnh báo không được dựa vào án tru hiến trong Cựu Ước để hợp thức hóa một hệ thống hành xử quốc gia nhằm biện minh cho thái độ hung bạo trên các quốc gia khác; làm như thế là bóp méo ý nghĩa của những đoạn Kinh Thánh được nói đến. Nhưng, mặt khác, Giáo Hội đề nghị không loại trừ những đoạn Cựu Ước mang tính bạo lực, phải tôn trọng gia sản Thánh. Và Giáo Hội mời gọi chúng ta phải tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng của những đoạn Kinh Thánh đó.
Ý nghĩa của án thần tru
Trong thực tế đã không có cuộc đánh chiếm thành Giêrikhô như sách Giôsuê trình bày, và như thế án tru hiến đối với thành Giêrikhô cũng đã không xảy ra trong lịch sử như những gì được trình bày trong sách Giôsuê chương 6 (bởi vì thành Giêrikhô đã bị bỏ hoang trước khi Israel tiến vào, không còn thành trì mà chiến đấu và tiêu diệt).
Án tru hiến đã không xảy ra trong lịch sử khi Israel tiến vào thành Giêrikhô như những gì sách Giôsuê chương 6 ghi lại; chỉ mãi sau này người ta mới viết ra nhằm cảnh báo dân tránh xa cám dỗ đưa đến thờ tà thần. Vì vậy chúng ta không thể đọc án thần tru theo nghĩa đen, nhưng theo nghĩa ẩn dụ. Đó là đoạn tuyệt với tất cả những cớ, những dịp đưa đến tội tà thần. Tà thần theo Kinh Thánh, là những gì không phải là Thiên Chúa, chúng chỉ là thụ tạo, mà con người lại thờ kính chúng thay vì thờ kính Thiên Chúa.
Án thần tru là diệt sạch những dân ngoại, diệt sạch những gì thuộc về dân ngoại. Nhưng đó không phải là mục đích của án thần tru, mục đích chính là đoạn tuyệt với việc thờ tà thần. Vậy tại sao sách Giôsuê lại dùng hình ảnh án thần tru, một hình ảnh gây xúc phạm tâm thức người thời nay, và làm méo mó hình ảnh của Thiên Chúa? Chúng ta biết, suốt dòng lịch sử của mình, Israel đã không tài nào dứt bỏ được tội thờ tà thần, và lưu đày được coi là hậu quả của sự bất trung của Israel đối với Chúa. Từ kinh nghiệm đau thương này, Israel nhận ra bao lâu còn sống chung giữa dân ngoại, Israel không tài nào thoát khỏi cám dỗ thờ tà thần. Vì thế tác giả sách Giôsuê đã dùng hình ảnh mạnh mẽ diễn tả một đòi hỏi gắt gao phải đoạn tuyệt, không nhượng bộ, không lấp lửng.
Chúng ta cũng đã làm như vậy khi đọc Tân Ước, chẳng hạn khi đọc Mt 18,8-9, không ai trong chúng ta hiểu theo nghĩa đen lời của Chúa Giêsu dạy: “Nếu tay hoặc chân anh nên cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt nó mà ném đi…” (Mt 18,8-9). Không ai trong chúng ta đọc nó theo nghĩa đen, chúng ta biết nó mang nghĩa biểu tượng: đó là lời mời gọi một sự đoạn tuyệt hết sức khắt khe trước những dịp tội, dù giá phải trả là thế nào đi nữa.
Án thần tru và con người thời nay
Nếu án thần tru xem ra xúc phạm đến cảm thức của người thời nay, thì thông điệp của án thần tru vẫn khẩn thiết cho hôm nay. Sống giữa dân ngoại, Israel đã không thể làm cho muôn dân nhận biết Thiên Chúa là Thiên Chúa thật; trái lại, họ đánh mất cả căn tính của mình là Dân Riêng của Chúa, khi triền miên bị ảnh hưởng bởi lối sống của dân ngoại. Bài học của Israel là bài học của dân Chúa mọi thời và hôm nay. Chúng ta chưa vội bàn đến tội tà thần ở đây, mà chỉ cần bàn đến việc Kitô hữu đã vay mượn lối suy nghĩ, cách hành xử của thói đời vào trong đời sống Kitô hữu, chúng ta có thể nêu một vài điển hình.
Để tồn tại trong xã hội hôm nay, nhiều người phải loại trừ nhau dưới những hình thức khác nhau. Họ bị nhận chìm trong một thế giới của “chủ nghĩa cơ hội”. Họ tìm mọi cơ hội để tiến thân, nên không còn biết tin ai, và chẳng ai dám tin nhau, và dùng người khác để làm bàn đạp tiến thân. Các Kitô hữu luôn được mời gọi phải tỉnh táo để không vay mượn những hình thức tiến thân không hợp với tinh thần Kitô giáo.
Chúng ta sống trong một thế giới vẫn còn có cơ chế không nhằm để phục vụ cho người cần đến, nhưng lại theo hình thức “ban ơn”. Rõ ràng cơ chế “ban ơn” không hề phù hợp với tinh thần Kitô giáo. Tiếc thay còn quá nhiều cơ chế trong đó có Kitô hữu (chẳng hạn trường học, nơi làm việc), và cả cơ chế trong Giáo Hội có sự lây nhiễm lối cư xử thiếu tình người, thiếu tôn trọng con người mà theo hình thức “ban ơn”. Đức Phanxicô đã cảnh báo về hình thức “ban ơn” này trong cơ chế Giáo Hội và ngài gọi đó là “chiếc máy hồ sơ”.
Chúng ta đang sống trong một môi trường đang mất dần tinh thần trao ban nhưng không, cho đi không tính toán, không chờ đáp trả. Mọi Kitô hữu được mời gọi làm sống lại ý thức trao ban nhưng không này. Trong khi đó, có những hình thức quyên tiền bằng phương tiện Lời Chúa, đang được phổ biến khá nhiều nơi. Khi làm điều gì, người ta đều đưa những giải thích xem ra logic để biện minh; nhưng chúng ta đừng quên luật luân lý: “Mục đích không thể biện minh cho phương tiện”. Thực ra, cách dùng Lời Chúa, hay những phương tiện thánh để quyên tiền không phải chuyện mới lạ. Từ thời Trung cổ, Giáo Hội đã từng bị điên đảo bởi bệnh dịch ghê sợ của việc buôn thần bán thánh, và Giáo Hội đã phải chứng kiến cuộc ly khai của Luther.
Trong bối cảnh hiện nay, nhìn vào những hình thức chúc mừng, chúc tụng nhau một cách hoành tráng trong những dịp có người trúng cử làm người phụ trách trong các cộng đoàn dâng hiến, làm sao người trẻ tránh khỏi mầm bệnh háo danh khi bước theo Đức Giêsu! Những điều này có thể khiến người khác lầm tưởng chức tước như là dấu chỉ của sự thành công, như là đích điểm của đời dâng hiến.
Chúng ta thường nghe quen kiểu nói: ai cũng làm vậy; phải vậy thôi, vì mình sống giữa đời mà! Làm như thế là vay mượn lối sống của thói đời và đưa thói đời vào đời sống Giáo Hội, chứ không phải Tin Mừng hóa cuộc đời.
Các hình thức mừng nhận chức quyền trong Giáo Hội không phải chuyện của hôm nay, hay của riêng thời đại chúng ta, nó đã có nguồn gốc lâu đời, và tại Roma. Marco Politi, một nhà báo cũng là nhà sử học người Ý, đã phân tích cho chúng ta vài điều về khía cạnh này. Trước đây, mỗi khi có giáo hoàng mới đắc cử, các nhân viên Vatican sẽ được tiền thưởng. Cách hành xử này là dấu tích của vẻ hào nhoáng thời quân chủ, như người ta thưởng mừng các cận thần khi có tân vương lên ngôi. Đức Phanxicô, khi vừa trúng cử, ngài đã bỏ tập tục vay mượn thói lệ quân chủ này. Bên cạnh việc thưởng tiền cho các nhân viên Vatican dịp bầu giáo hoàng mới, còn nhiều nghi thức khác mang dấu vết của vẻ hào nhoáng thời phong kiến, mà trước Đức Phanxicô, một số vị giáo hoàng đã ý thức điều này. Chẳng hạn, trước đây, người ta còn thấy giáo hoàng ngồi trên kiệu khiêng, xung quanh là những cây quạt hình cành cọ, đó là di sản thời các Pharaô Ai Cập. Đức Gioan Phaolô II đã loại bỏ kiệu khiêng, điều mà trước đó, Giáo hoàng Luciani đã thấy nhưng không dám thay đổi. Cũng vậy, việc các hồng y vào quỳ phục trước giáo hoàng là sự thần phục của chư hầu khi ra chầu hoàng đế Roma, vị vua của các vua Ba Tư. Đến thời Gioan XXIII, khi ông Cesidio Lolli, phó giám đốc tờ báo Osservatore Romano, quỳ xuống trước mặt Đức Gioan XXIII dịp ngài vừa được bầu, Đức Gioan XXIII không chấp nhận cử chỉ này và ngài nói một câu đầy tính ngôn sứ: “Người ta chỉ quỳ gối để cầu nguyện”.
Mệnh lệnh án thần tru vẫn luôn khẩn thiết cho mọi thời trong đời sống Giáo Hội, đó là lời mời tránh xa những ngụy biện, những lối sống vay mượn thói đời. Nhưng Israel xưa đã không tài thoát khỏi, thì chúng ta cũng biết đó là cám dỗ triền miên đối với Giáo Hội, và cuộc trở về với căn tính Kitô hữu cũng phải trải qua cuộc lưu đày như Israel xưa.
Bình luận về bài viết này