Sự hy sinh, hoặc vật chất hoặc tinh thần, được nói đến rất nhiều nơi các truyền thống tôn giáo và triết học xưa nay. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc tiến trình phát triển tâm linh của một cá nhân, giúp cá nhân tự kỉ luật và gắn kết hơn với thần thánh hoặc “nhận thức cao hơn”. Trong bài viết này, chúng ta hãy xem xét những giá trị mà hy sinh có thể mang lại cho đời sống tâm linh, đồng thời cũng tìm hiểu thêm về những “bóng tối” hoặc mặt tiêu cực mà sự hy sinh bị lạm dụng hoặc nhấn mạnh thái quá.
Trước hết, chúng ta bàn về những giá trị tích cực mà sự hy sinh mang đến cho đời sống tâm linh. Dưới đây là một số điểm đáng chú ý:
- Buông bỏ sự bám chấp: Để phát triển tâm linh và tự do nội tâm, người ta cần phải hy sinh, buông bỏ những sự bám chấp của cải vật chất, cái tôi, những cảm xúc tiêu cực.
- Thanh tẩy “cái tôi”: Hy sinh là một công cụ hữu hiệu giúp thanh tẩy tâm hồn khỏi những xu hướng ích kỉ, sự kiêu ngạo và tính tham lam, chẳng hạn thực hành chay tịnh trong Kito giáo hoặc Hồi giáo.
- Tự kỉ luật và kiểm soát ham muốn: Từ bỏ một điều gì đó quý giá giúp huấn luyện tâm trí trong sự tự kỉ luật và giúp phát triển sự làm chủ các ham muốn, thèm khát, và bốc đồng.
- Phục vụ tha nhân và trắc ẩn: Hy sinh nhằm hướng tới sự vi tha, hướng về lợi ích của tha nhân, nuôi dưỡng lòng trắc ẩn và tình bác ái, ví dụ dành giờ hoặc nguồn lực nào đó giúp cho ai đang cần.
- Hiệp nhất với thần linh: Hành vi “đầu hàng” tất cả, chịu đựng và hy sinh tất cả như một sự siêu việt bản ngã, chấp nhận bỏ ý riêng mà một lòng vâng phục thánh ý Chúa.
- Biến đổi đau khổ thành ý nghĩa: Sẵn lòng chấp nhận gian nan thử thách có thể giúp một người trau dồi sự kiên nhẫn, trung kiên, coi đau khổ như một cơ hội thăng tiến tâm linh.
Đó là những mặt tích cực của hy sinh, bây giờ chúng ta sẽ nói đến những mặt tiêu cực của sự hy sinh nếu nó được nhấn mạnh quá đáng.
- Cái tôi tâm linh và tự mãn: Nhiều người tự cho rằng họ đã “hy sinh” nhiều hơn người khác, nên họ tự cho rằng họ tiến bộ hoặc siêu đẳng hơn người khác về mặt tâm linh.
- Bỏ lơ bản thân và kiệt sức: Hy sinh quá nhiều đến mức không quan tâm đủ đến việc yêu thương chăm sóc bản thân, dẫn đến kiệt quệ tinh thần và thể xác, dẫn đến mệt mỏi không còn trắc ẩn nữa.
- Tương quan phụ thuộc thiếu lành mạnh: Một người hy sinh tất cả cho người khác, luôn hy sinh vì người khác, dẫn đến việc luôn sống tâm thức “nô lệ”, rồi dễ dẫn đến cáu gắt và bất mãn.
- Đè nén ham muốn và ức chế cảm xúc: Phớt lờ những ham muốn tự nhiên của con người có thể gây ra bất mãn, cảm giác tội lỗi hoặc cảm thức trống rỗng, đứt kết nối với bản ngã đích thực.
- Não trạng tử đạo: Một số người mang trong mình sự phức hợp “tử đạo”, luôn tin rằng đau khổ và hy sinh liên tục làm cho họ nên công chính hơn, xứng đáng hơn “trước mặt Chúa”.
- Tội lỗi và mặc cảm nơi tha nhân: Khi hy sinh được lý tưởng hóa, nó có thể vô tình tạo ra cảm thức tội lỗi và mặc cảm cho những ai cảm thấy không có khả năng hoặc chưa sẵn sàng hy sinh tương tự thế.
- Giáo điều cứng nhắc và cuồng tín: Một số người cực đoan, hoặc lãnh đạo tôn giáo, khai thác ý tưởng “hy sinh” và nhấn mạnh đó là con đường duy nhất, để kiểm soát và thao túng những người tin theo; Mỗi người nên phân định và chọn cho mình con đường riêng.
- Phớt lờ niềm vui và lòng biết hơn: Nhấn mạnh quá về hy sinh sẽ bỏ qua biết bao cơ hội vui hưởng cuộc sống và trân quý cuộc đời với lòng biết ơn. Đời sống đức tin hay ơn gọi tu trì không chỉ là hy sinh.
Nói tóm lại, chúng ta cần phải quân bình và phân định trong việc hy sinh. Ta phục vụ tha nhân nhưng ta cũng phải biết chăm sóc chính bản thân mình. Hy sinh không nên được cảm thấy như một gánh nặng mà là một hành vi yêu thương và cống hiến. Ta cần biết từ bỏ cái gì và nâng niu cái gì, hy sinh nên đi liền với mục đích hướng thượng, chứ không được dẫn đến kiệt sức hoặc ức chế. Cho dù trên hành trình tự kỉ luật bản thân, vẫn cần có những hy sinh, nhưng ta phải ăn mừng những khoảnh khắc vui tươi với lòng biết ơn Thiên Chúa và trân quý cuộc đời.
Bình luận về bài viết này