Có một nghịch lý lớn trong đời sống con người: Chúng ta được dựng nên để yêu và sống tự do, nhưng lại bị ám ảnh bởi sợ hãi: Sợ sai, sợ mất, sợ bị phán xét, sợ không được chấp nhận. Và chính nỗi sợ ấy, hơn bất cứ điều gì khác, giết chết sự sống và tình yêu trong ta.
Trong Kinh Thánh, nỗi sợ luôn là dấu hiệu của mất niềm tin. Ngay từ vườn Êđen, khi Ađam nghe tiếng Chúa, ông nói: “Con nghe tiếng Ngài trong vườn, con sợ, nên con ẩn mình.” (St 3,10). Từ khoảnh khắc đó, con người bắt đầu chạy trốn khỏi Đấng yêu thương mình, vì sợ. Nỗi sợ đã thay thế sự thân mật, đã biến tự do thành phòng thủ, và tình yêu thành luật lệ.
Thế nhưng điều bi kịch không dừng ở đó. Các cơ cấu xã hội, tôn giáo, và chính trị – vốn đáng lẽ phải giúp con người lớn lên trong tự do và nhân phẩm – lại thường vô tình (hoặc cố ý) khai thác chính nỗi sợ ấy để kiểm soát.
Người ta được dạy phải “sợ Chúa” theo nghĩa méo mó: Sợ hình phạt (sợ Hỏa ngục) hơn là tôn kính mến yêu. Người ta được dạy phải “ngoan ngoãn”, phải “không được đặt câu hỏi”, phải chấp nhận quyền lực như một điều thiêng liêng, thay vì như một trách nhiệm phải được chất vấn. Dần dần, tôn giáo biến thành cơ chế duy trì trật tự; và trật tự, khi không còn tình yêu, trở thành công cụ giết chết sự sống.
Khi Đức Giêsu đến, Ngài nhìn thấu điều đó. Ngài nói: “Đừng sợ!” (Lc 12,7). Câu nói ấy không phải là một lời trấn an ngọt ngào, mà là một tuyên ngôn cách mạng. Đừng sợ, nghĩa là đừng để bất cứ thể chế, giáo quyền hay quyền lực nào tước mất phẩm giá và tự do con cái Thiên Chúa trong bạn.
Khi Đức Giêsu chữa bệnh vào ngày sabát, khi Ngài ăn uống với kẻ tội lỗi, khi Ngài chạm đến người phong hủi, đó là những hành động chống lại nỗi sợ được hệ thống hóa. Sợ vi phạm luật, sợ mất danh dự, sợ bị loại trừ. Nhưng chính việc Ngài không sợ đã làm cho sự sống và tình yêu được phục hồi.
Thánh Gioan nói: “Tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi.” (1 Ga 4,18). Điều này có nghĩa: nơi nào có tình yêu đích thực, ở đó không còn chỗ cho sợ hãi. Bởi yêu là tự hiến, mà sợ là co cụm lại. Yêu là dám sống thật, còn sợ là che giấu bản thân. Yêu là tin tưởng, sợ là nghi ngờ. Một khi ta để sợ hãi dẫn đường và bao vây cuộc sống ta, ta đánh mất chính khả năng yêu – mà yêu là điều duy nhất làm ta nên người.
Ngày nay, các cơ cấu vẫn tiếp tục gieo sợ hãi: Sợ mất quyền lợi, sợ nghèo, sợ thất bại, sợ khác biệt, sợ mất mặt, sợ bị hủy hoại danh tiếng. Chúng ta bị nhồi vào đầu rằng “phải an toàn”, “phải đúng đắn”, “phải như mọi người”. Nhưng Chúa không dựng nên ta để sống mãi trong vùng an toàn. Ngài dựng nên ta để sống, và sống dồi dào. (Ga 10,10).
Có lẽ bước đầu tiên để sống thật là nhận ra ta đang sợ gì, và ai đã dạy ta sợ. Phải gọi đúng tên nỗi sợ thì mới có thể vượt qua nó. Bởi phần lớn nỗi sợ không phải đến từ Chúa, mà từ con người và những cơ chế bảo vệ quyền lực.
Sự sống và tình yêu không thể tồn tại trong những tâm hồn bị quản lý bằng nỗi sợ. Chúa Thánh Thần – là hơi thở của tự do – không ngự xuống những nơi mà con người bị ràng buộc bởi sợ hãi.
Cho nên, sống theo Thánh Kinh không phải là tuân phục vì sợ, mà là bước đi trong tự do của tình yêu. Và đôi khi, để yêu thật, ta phải dám chống lại những cơ cấu đã làm ta sợ.
Bởi cuối cùng, như lời Đức Giêsu nói: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ tìm lại được.” (Mt 16,25). Chỉ khi dám mất, nghĩa là dám vượt qua sợ hãi, ta mới thật sự sống.
Nỗi sợ giết chết sự sống và tình yêu không phải vì nó mạnh, mà vì ta đã để nó chiếm chỗ của đức tin. Còn tình yêu, khi đã chạm đến lòng người, thì không quyền lực nào – dù tôn giáo hay chính trị – có thể bóp nghẹt được. Và có lẽ, tự do thật sự bắt đầu từ giây phút ta dám nói: “Tôi không còn sợ nữa.”
Bình luận về bài viết này