Có một số “căn bệnh” kéo dài kinh niên qua nhiều thế hệ trong Giáo hội Công giáo Việt Nam. Tuy không phải ai cũng mắc bệnh, nhưng chúng đủ phổ biến để gây hệ quả sâu rộng trong cộng đồng.
1. Đức tin nặng hình thức, nhẹ chiều sâu
Rất nhiều người giữ đạo bằng thói quen: đi lễ, đọc kinh, rước lễ. Nhưng họ rất ít hoặc thậm chí không đọc Kinh Thánh bao giờ, họ không biết cấu trúc căn bản của Thánh Kinh, tin Chúa nhưng không biết Lời Chúa là gì. Hệ quả là, đạo trở thành sinh hoạt văn hóa hơn là gặp gỡ Thiên Chúa. Khi gặp khủng hoảng, chẳng hạn như mất mát, bệnh tật, scandal, đức tin dễ dàng suy sụp.
2. Não trạng “xin-cho” thay vì tinh thần giao ước
Đời sống đạo bị thu nhỏ vào việc xin ơn: xin ơn thi cử, làm ăn phát tài, xin ơn khỏi bệnh, v.v… Ít ai tự hỏi: Tôi đang sống giao ước với Thiên Chúa như thế nào? Tôi có thay đổi đời sống theo Tin Mừng hay chưa? Đức tin bị biến thành một dạng tôn giáo dân gian mang màu sắc mê tín, gần giống kiểu tâm thức Á Đông truyền thống hơn là linh đạo Thánh Kinh.
3. Lệ thuộc giáo sĩ, thiếu trưởng thành
Lịch sử Việt Nam trải qua nhiều bách hại, cộng đoàn dân Chúa chủ yếu tập trung quanh linh mục, khiến sinh ra mô hình “linh mục quyết hết, giáo dân vâng theo”. Điều đó tạo ra lớp người thiếu tư duy phản biện, thiếu trách nhiệm cá nhân, và rất dễ sụp đổ khi linh mục vấp ngã. Công đồng Vatican II, cách đây hơn 60 năm rồi, đã kêu gọi vai trò chủ động của giáo dân, nhưng tại Việt Nam việc tiếp nhận và triển khai tinh thần Công đồng vẫn còn rất sơ sài, gần như không có.
4. Đạo đức nặng luân lý tính dục, nhẹ công lý xã hội
Giáo dân Việt Nam ta rất nhạy với với các vấn đề liên quan đến luân lý tính dục như “điều răn thứ sáu”, sống chung, sống thử, ly dị, v.v… Trong khi đó, chúng ta lại ít nhạy hoặc phớt lờ với các vấn đề tham nhũng, bất công xã hội, bóc lột sức lao động, gian dối trong kinh doanh. Đọc Kinh Thánh thì chúng ta mới thấy rằng, các ngôn sứ của Thiên Chúa như Amos và Isaiah lại tập trung và nhấn mạnh nhiều về công lý xã hội.
5. Thiếu nền tảng Thánh Kinh
Còn rất nhiều giáo dân không biết Sách Thánh là gì, không phân biệt được Cựu Ước và Tân Ước, không hiểu bối cảnh lịch sử của các sách như thế nào, không biết Tin Mừng Nhất Lãm khác nhau ra sao… Trong khi đó, truyền thống đích thực của Hội Thánh từ thời thánh Jerome đã nhấn mạnh: “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô.”
6. Tâm thức sợ hãi thay vì tự do trong Thánh Thần
Một số người giữ đạo chỉ vì sợ tội, sợ hỏa ngục, sợ “mất ơn”, sợ “mất phước”, chứ không phải vì tình yêu Thiên Chúa. Điều này tạo ra đức tin ấu trĩ kéo dài thậm chí cho đến già. Thánh Phaolô Tông đồ trong các thư của ngài nói rõ về tự do trong Thánh Thần, nhưng rất tiếc điều này ít được nhắc đến và đào sâu trong dân Chúa.
7. Chủ nghĩa cộng đồng khép kín
Cộng đoàn Công giáo Việt Nam rất mạnh về tính cộng đồng, nhưng mặt trái là sợ khác biệt, nghi kỵ người ngoài, ngại đối thoại liên tôn. Trong khi đó, tinh thần của Chúa Giesu, của Kitô giáo ngay từ buổi sơ khai, đã là tôn giáo vượt biên giới dân tộc.
Có lẽ nguyên nhân sâu xa cho các “căn bệnh” trên chính là lịch sử bách hại kéo dài tại Việt Nam tạo tâm lý phòng thủ, rồi cộng thêm văn hóa Nho giáo đề cao tôn ti trật tự và vâng phục, từ đó sinh ra nạn giáo sĩ trị tràn lan. Giáo dân không được học biết Thánh Kinh cách đều đặn, vì nhiều giáo sĩ lơ là nhiệm vụ giảng dạy mà chỉ tập trung nhiều vào nhiệm vụ quản trị và thánh hóa (làm các bí tích). Còn nhiều giáo dân thường có não trạng “giữ đạo” hơn là “sống đạo”. Tôi e rằng, khi thế hệ trẻ không còn thấy đạo có chiều sâu trí tuệ và nội tâm, họ sẽ rời bỏ trong im lặng mà thôi.


Bình luận về bài viết này